Friday, October 16, 2026

Phạm Sanh tái xuất giang hồ 2026

Sài Gòn mùa này, sấm chớp ầm ầm, mưa trắng trời cả ngày, nước ngập mênh mông. Chỉ còn gỏ laptop xem tin, liếc vội trang hội ngộ để đở nhớ nhà nhớ Bạn, xem đứa nào còn người nào mất. Thấy bài của Anh BS Đỗ Hồng Ngọc viết về chuyến đi Đà Lạt, có nhắc về Cô Mụ Bé đầu cầu sắt, tôi mừng lắm, xem ngay. Cái xứ Đà lạt mộng mơ và nhà bảo sanh Cô Mụ Bé, với tôi, có quá nhiều kỹ niệm đẹp và khó quên trong ký ức.

Ba Mẹ tôi sinh được 10 người con, có trai có gái, tất cả đều sanh ở nhả bảo sanh Bà Mụ Bé, trừ tôi, anh cả. Tôi biết rõ vì cứ mỗi lần Mẹ đi sinh, tôi đều lên nhà bảo sanh thăm Mẹ, ráng nhìn đứa em còn đỏ hỏn, khóc oe oe, xem giống ai, xem Mẹ thay băng quấn tả, cho em bú. Sướng nhất là ăn cháo cá đục cá mai, thịt kho tiêu với Mẹ, khi về còn được cho thêm ít tiền đi học ăn vặt. Riêng tôi thì đến giờ, cũng không biết mình sinh ở đâu, Bà Mụ nào? Lúc Ba Mẹ còn sống, nhiều lần tôi hỏi, do để xem tử vi hay tò mò cho biết gì đó, Mẹ tôi chỉ cười, nói tôi sanh ra lúc gà bắt đầu gáy sáng. Mà cái giấy khai sinh thời loạn lạc giặc giã bấy giờ, cũng tờ mờ, có đúng gì đâu.

Thật ra, Mẹ tôi cũng là Cô mụ vườn. Lúc nhỏ, sau khi học trường Nữ, Mẹ vào Sài Gòn học trường Áo Tím (Gia Long, Minh Khai bây giờ), sau đó học trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia. Ra trường, nghe tiếng gọi, Mẹ vào rừng núi chiến khu D, đở đẻ cho những thôn nghèo người dân tộc, nghe Mẹ kể lại, trước khi có Cô Mụ, trẻ con vừa mới sinh đã được đưa ra sông suối, dìm xuống nước, đứa nào còn sống thì đem về nuôi, chết non gần hết. Về sau, nhớ nhà, Mẹ xin về Bình Thuận, công tác tại Trạm xá Quân Dân Y, đi hết Xóm Trạm đến Bàu Trắng. Ba Mẹ tôi đã gặp nhau trong hoàn cảnh ly loạn này. Một lần Pháp đi càn, Mẹ bị bắt, đưa về Phan Thiết, Ông Ngoại phải nhờ đến người em gái Bà Ngoại sau, nói với một viên quan toà Công Sứ đang theo đuổi tán tỉnh, lảnh mẹ tôi ra khỏi trại giam. Lần này, thấy Ông Ngoại buồn và lo, Mẹ xin vào làm với Bà Mụ Bé. Ban đêm ở nhà Nội, Mẹ lại làm cô mụ vườn, giúp đở đẻ cho những người dân biển trong xóm chuyển bụng nửa đêm, không có điều kiện đến bệnh viện hay các nhà bảo sanh tư. Tôi lại được ăn gà giò, xôi chè bánh trái liên tục thả dàn, nhờ công chờ cửa Mẹ gần suốt cả đêm. Những lần gặp ca sinh khó, Mẹ đều về nhà thắp nhang cúng nước bàn thờ Bà, hay dắt tôi đi chùa Bà Đức Sanh ngay sáng hôm sau, lạy tạ Bà. Tôi lại được ăn mì hoành thánh quán đầu chợ. Thấy Mẹ quá cực, thức đêm thức khuya mà mẹ lại nhỏ con ốm yếu, Ba khuyên Mẹ bỏ nghề cô mụ, theo nghề đầu nậu của Bà Nội và nghề làm nước mắm bên Ngoại. Sau 75, những người bạn Mẹ tôi ở trạm xá dân y thời kháng Pháp trở về, ai cũng làm xếp, rủ Mẹ trở lại công việc ngành y, Mẹ chỉ cười, tôi nghĩ, chắc là mẹ đang cố thoáng nhớ lại một thời con gái đã qua.

Xong chuyện Mẹ và Cô Mụ Bé, lại nhớ về Đà Lạt, bây giờ không còn xa Phan Thiết nữa, không phải vì có các đèo Đại Ninh, Gia Bát, xe chạy được vài hôm là sạt lỡ tắc đường,mà vì là cùng chung một tỉnh Lâm Đồng hết. Ban đầu, nghe tin cá voi lỵ ở Lâm Đồng, ai cũng ngỡ ngàng, nhưng rồi hiểu ra, chỉ cười, thét rồi cũng quen. Xứ núi xứ biển, nơi lạnh nơi nóng, cứ y như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, cùng ráng chạy theo nàng Công Chúa Mỵ Nương.

Tôi lên Đà Lạt lần đầu vào khoảng giữa năm 1974, theo chân lớp sinh viên năm cuối đi thực tập tốt nghiệp tại khu Công Chánh Đà Lạt. Lần đầu đi chơi tương đối xa, lại nghe tiếng Đà Lạt từ lâu, nên tôi cứ háo hức nhìn chăm chăm quang cảnh hai bên đường. Qua những cánh rừng cao su thẳng tắp, rẽ trái ngã ba Dầu Giây, chạy một lúc thì qua cầu La Ngà. Gặp ba hòn đá chồng nằm xếp lên nhau chênh vênh ngộ nghĩnh, y như có bàn tay mấy ông khổng lồ. Lại qua các vườn cao su, giá tỵ, điều mít bạt ngàn, dân cư thưa thớt. Đến Đèo Chuối, ngọn đèo nhỏ đầu tiên,  xa xa toàn núi đồi chập chùng, thỉnh thoảng  vài bóng cây cổ thụ, am thờ, chuối rừng mọc dại ven đường. Xe lại tiếp tục leo đèo Bảo Lộc, cả đoàn thót tim, con đèo khá dài, dốc cao, đường nhỏ quanh co ngoằn nghèo cứ uốn lượn như con rắn, ôm cua gắt liên tục. Ra khỏi đèo, ai cũng thở phào nhẹ nhõm, không khí mát lạnh vùng Cao Nguyên đến lúc nào không hay. Một chốc đã đến thị trấn Bảo Lộc, toàn những đồi chè mênh mông bát ngát chạy đến chân trời, xanh biếc nổi bật trên nền đất đỏ bazan. Hình ảnh các đồi chè xanh, các ngôi nhà vách gỗ mái tôn nép sườn đồi, những người đàn bà với chiếc gùi hái chè, kéo dài qua tận Di Linh, cho đến Đức Trọng mới không còn thấy. Vùng đất mới của người Ngũ Quảng vào, cả người Hoa, người Thái trắng Thái đen, chỉ tràn ngập hoa cỏ, cây ngắn ngày, vườn cây ăn trái. Ngã ba Phi Nôm ló dạng với hình ảnh cây cổ thụ già đứng cô đơn một mình. Chạy một chốc đã đến đèo Prenn. Đường đèo lúc này còn hẹp, đủ để hai xe nhỏ tránh nhau, hơi ngoằn nghèo, xe vắng, chỉ thoáng nghe tiếng chim kêu, suối chảy, nhưng phong cảnh hai bên đường tuyệt đẹp. Bên phải là các vách thạch cao trắng toát đứng dựng. Bên trái thông xanh bạt ngàn chạy tuốt vô rừng sâu. Vừa ra khỏi đèo, thành phố đã xuất hiện, sương mù bay lãng đãng, các ngôi biệt thự xinh xắn nằm nép giữa đồi thông, đã cảm nhận được cái đẹp và cái lạnh của Đà Lạt ngay từ ngỏ vào. Lần lên Đà Lạt này, đoàn thày trò của trường được ngũ nghỉ tại khu nhà gỗ Bà Triệu của Khu Công Chánh. Riêng buổi tối đầu tiên, được gia đình Ông Khôi, Trưởng Khu, cũng là đồng môn đồng nghiệp, mời chiêu đãi tiệc rượu, khiêu vũ tại tư gia đường Hai Bà Trưng. Và cũng những ngày sau, chính Ông Khôi hướng dẩn đi thăm các công trình kiến trúc xây dựng xưa nổi tiếng tại Đà Lạt như nhà ga xe lửa, Nha Địa Dư, Lycée Yersin, nhà thờ Con Gà, đập Suối Vàng, Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt, dinh Bảo Đại…Ngày cuối, tôi tách đoàn, rảo khu chợ Hoà Bình, mua ít quà kỹ niệm cho người bạn sắp đi học xa, trà atiso, thông khô, cù lần, áo len.

Lần thứ hai, khoảng những năm 80, tôi lại lên Đà Lạt hướng từ Phan Rang đi Sông Pha, qua nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, men theo con đèo Ngoạn Mục, đẹp y như cái tên của nó. Phía núi vách đá, rừng cổ thụ rêu phong; phía vực sâu, rừng núi chập chùng, đôi lúc thấy được cả một phần  đồng bằng Ninh Thuận. Ngoằn nghèo chui qua chui lại đường ống kim loại trắng bạc to đùng neo bám theo núi đá dựng  đứng dẩn nước từ Đơn Dương xuống nhà máy. Thấy được cả những chiếc xe bé xíu chạy vòng phía bên kia rặng núi. Trên đèo, thỉnh thoảng vài chiếc xe hơi bò lên chậm chạp, vài tốp người đi bàn trượt chở chuối xổ dốc. Đến Đơn Dương, xe lại đi theo đường đèo Dran, về Cầu Đất Trại Mát. Lên Đà Lạt thời bao cấp, sương mù vẫn lãng đãng, các ngôi biệt thự vẫn núp bóng các đồi thông, nhưng có vẻ buồn hơn và chậm lại, phố sá vắng vẻ, giống phố cổ Hội An và những căn phố người Hoa nhiều hơn, đất chỗ nào cũng trồng rau củ, biệt thự chuyển sang làm nhà khách nhiều, mà bỏ không thì cũng dễ trở nên hoang phế, rêu phong che kín, thét nghe toàn là chuyện ma. Lên Đà Lạt những năm này, chỉ ăn cơm nhà khách, gia đình bà con, rồi thả bộ uống cà phê một mình, nhìn tranh, nhìn hoa, nhìn cô chủ nhỏ con má trắng hồng chẳng biết nói gì. Đúng là thành phố buồn như Lam Phương đã viết.

Những năm về sau này, khi về Sài Gòn đi dạy học, tôi lại có dịp lên Đà Lạt nhiều hơn, nhưng lòng không còn háo hức như những chuyến đi ban đầu, cuộc sống làm con người ta thực tế, bớt mơ mộng nhiều. Tôi thường đi xe giường nằm chạy ban đêm, hết Phương Trang đến Thành Bưởi. Hiếm đi máy bay vì ít chuyến trong tuần, khi nghỉ khi bay. Mà xe tốc hành cũng tiện, vé dễ đặt trước, lên xe là ngủ khò, tới trạm dừng chân Madagui, tỉnh dậy, xuống xe vệ sinh, làm tô hủ tiếu hay ly cà phê đá gì đó. Đến nơi, cũng chỉ tầm 5 giờ, bến xe vắng lạnh tanh, theo xe  đưa đón của nhà xe, hay xe ôm, taxi về chỗ nghỉ. Những thời gian không đứng lớp, tôi thường thả bộ xem hoa chụp ảnh. Đường nào, nhà nào, tường rào sân vườn  cũng mọc/trồng đầy những loại hoa, dây leo đẹp. Anh đào, phượng tím, mimosa, pensée, hồng, cúc, xác pháo lồng đèn…, mùa nào hoa nấy. Nhìn hoa Đà Lạt, lại nhớ đồi núi hoa cỏ Lyon những năm đi học. Lyon cũng có thông, anh đào, oải hương, nhiều hàng phong lá đỏ, huyền diệp, hoa hồng, có cả tuyết rơi trên các khu phố cổ mà Đà Lạt không có.

Quay lại  nói thêm chuyện ăn uống. Ăn uống trong cái khí trời se lạnh ở Đà Lạt thì khỏi bàn, đi một chút là phở, bánh căn, bánh ướt, bún bò, bánh mì xíu mại, mì quảng.. Nhiều lúc còn được các nhóm học viên Bảo Lộc, Di Linh, Đức Trọng ở xa về học, rủ Thày đi ăn cho biết món ngon Đà Lạt, nào bò nướng ngói, lẩu gà lá é, lẩu cá tầm, cơm niêu, phở thố… Ngày về, lúc nào cũng có vài chậu lan Hài, các nhánh Long Tu chớm nụ chơi Tết.

Đà Lạt không mộng mơ trầm tư giống Huế, chẳng giống Hà Nội thanh lịch cổ kính, cũng không hẳn là những người Quảng tốt bụng mặn mà. Đà Lạt chỉ là Đà Lạt.

Phạm Sanh 72PBC