Sài Gòn mùa này, sấm chớp ầm ầm, mưa trắng trời cả ngày, nước
ngập mênh mông. Chỉ còn gỏ laptop xem tin, liếc vội trang hội ngộ để đở nhớ nhà
nhớ Bạn, xem đứa nào còn người nào mất. Thấy bài của Anh BS Đỗ Hồng Ngọc viết về
chuyến đi Đà Lạt, có nhắc về Cô Mụ Bé đầu cầu sắt, tôi mừng lắm, xem ngay. Cái
xứ Đà lạt mộng mơ và nhà bảo sanh Cô Mụ Bé, với tôi, có quá nhiều kỹ niệm đẹp
và khó quên trong ký ức.
Ba Mẹ tôi sinh được 10 người con, có trai có gái, tất cả đều
sanh ở nhả bảo sanh Bà Mụ Bé, trừ tôi, anh cả. Tôi biết rõ vì cứ mỗi lần Mẹ đi
sinh, tôi đều lên nhà bảo sanh thăm Mẹ, ráng nhìn đứa em còn đỏ hỏn, khóc oe
oe, xem giống ai, xem Mẹ thay băng quấn tả, cho em bú. Sướng nhất là ăn cháo cá
đục cá mai, thịt kho tiêu với Mẹ, khi về còn được cho thêm ít tiền đi học ăn vặt.
Riêng tôi thì đến giờ, cũng không biết mình sinh ở đâu, Bà Mụ nào? Lúc Ba Mẹ
còn sống, nhiều lần tôi hỏi, do để xem tử vi hay tò mò cho biết gì đó, Mẹ tôi
chỉ cười, nói tôi sanh ra lúc gà bắt đầu gáy sáng. Mà cái giấy khai sinh thời
loạn lạc giặc giã bấy giờ, cũng tờ mờ, có đúng gì đâu.
Thật ra, Mẹ tôi cũng là Cô mụ vườn. Lúc nhỏ, sau khi học trường
Nữ, Mẹ vào Sài Gòn học trường Áo Tím (Gia Long, Minh Khai bây giờ), sau đó học
trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia. Ra trường, nghe tiếng gọi, Mẹ vào rừng núi chiến
khu D, đở đẻ cho những thôn nghèo người dân tộc, nghe Mẹ kể lại, trước khi có Cô
Mụ, trẻ con vừa mới sinh đã được đưa ra sông suối, dìm xuống nước, đứa nào còn
sống thì đem về nuôi, chết non gần hết. Về sau, nhớ nhà, Mẹ xin về Bình Thuận,
công tác tại Trạm xá Quân Dân Y, đi hết Xóm Trạm đến Bàu Trắng. Ba Mẹ tôi đã gặp
nhau trong hoàn cảnh ly loạn này. Một lần Pháp đi càn, Mẹ bị bắt, đưa về Phan
Thiết, Ông Ngoại phải nhờ đến người em gái Bà Ngoại sau, nói với một viên quan
toà Công Sứ đang theo đuổi tán tỉnh, lảnh mẹ tôi ra khỏi trại giam. Lần này, thấy
Ông Ngoại buồn và lo, Mẹ xin vào làm với Bà Mụ Bé. Ban đêm ở nhà Nội, Mẹ lại
làm cô mụ vườn, giúp đở đẻ cho những người dân biển trong xóm chuyển bụng nửa
đêm, không có điều kiện đến bệnh viện hay các nhà bảo sanh tư. Tôi lại được ăn
gà giò, xôi chè bánh trái liên tục thả dàn, nhờ công chờ cửa Mẹ gần suốt cả đêm.
Những lần gặp ca sinh khó, Mẹ đều về nhà thắp nhang cúng nước bàn thờ Bà, hay dắt
tôi đi chùa Bà Đức Sanh ngay sáng hôm sau, lạy tạ Bà. Tôi lại được ăn mì hoành
thánh quán đầu chợ. Thấy Mẹ quá cực, thức đêm thức khuya mà mẹ lại nhỏ con ốm yếu,
Ba khuyên Mẹ bỏ nghề cô mụ, theo nghề đầu nậu của Bà Nội và nghề làm nước mắm
bên Ngoại. Sau 75, những người bạn Mẹ tôi ở trạm xá dân y thời kháng Pháp trở về,
ai cũng làm xếp, rủ Mẹ trở lại công việc ngành y, Mẹ chỉ cười, tôi nghĩ, chắc
là mẹ đang cố thoáng nhớ lại một thời con gái đã qua.
Xong chuyện Mẹ và Cô Mụ Bé, lại nhớ về Đà Lạt, bây giờ không
còn xa Phan Thiết nữa, không phải vì có các đèo Đại Ninh, Gia Bát, xe chạy được
vài hôm là sạt lỡ tắc đường,mà vì là cùng chung một tỉnh Lâm Đồng hết. Ban đầu,
nghe tin cá voi lỵ ở Lâm Đồng, ai cũng ngỡ ngàng, nhưng rồi hiểu ra, chỉ cười, thét
rồi cũng quen. Xứ núi xứ biển, nơi lạnh nơi nóng, cứ y như Sơn Tinh Thuỷ Tinh,
cùng ráng chạy theo nàng Công Chúa Mỵ Nương.
Tôi lên Đà Lạt lần đầu vào khoảng giữa năm 1974, theo chân lớp
sinh viên năm cuối đi thực tập tốt nghiệp tại khu Công Chánh Đà Lạt. Lần đầu đi
chơi tương đối xa, lại nghe tiếng Đà Lạt từ lâu, nên tôi cứ háo hức nhìn chăm
chăm quang cảnh hai bên đường. Qua những cánh rừng cao su thẳng tắp, rẽ trái
ngã ba Dầu Giây, chạy một lúc thì qua cầu La Ngà. Gặp ba hòn đá chồng nằm xếp lên
nhau chênh vênh ngộ nghĩnh, y như có bàn tay mấy ông khổng lồ. Lại qua các vườn
cao su, giá tỵ, điều mít bạt ngàn, dân cư thưa thớt. Đến Đèo Chuối, ngọn đèo nhỏ
đầu tiên, xa xa toàn núi đồi chập chùng,
thỉnh thoảng vài bóng cây cổ thụ, am thờ,
chuối rừng mọc dại ven đường. Xe lại tiếp tục leo đèo Bảo Lộc, cả đoàn thót
tim, con đèo khá dài, dốc cao, đường nhỏ quanh co ngoằn nghèo cứ uốn lượn như
con rắn, ôm cua gắt liên tục. Ra khỏi đèo, ai cũng thở phào nhẹ nhõm, không khí
mát lạnh vùng Cao Nguyên đến lúc nào không hay. Một chốc đã đến thị trấn Bảo Lộc,
toàn những đồi chè mênh mông bát ngát chạy đến chân trời, xanh biếc nổi bật
trên nền đất đỏ bazan. Hình ảnh các đồi chè xanh, các ngôi nhà vách gỗ mái tôn
nép sườn đồi, những người đàn bà với chiếc gùi hái chè, kéo dài qua tận Di
Linh, cho đến Đức Trọng mới không còn thấy. Vùng đất mới của người Ngũ Quảng
vào, cả người Hoa, người Thái trắng Thái đen, chỉ tràn ngập hoa cỏ, cây ngắn
ngày, vườn cây ăn trái. Ngã ba Phi Nôm ló dạng với hình ảnh cây cổ thụ già đứng
cô đơn một mình. Chạy một chốc đã đến đèo Prenn. Đường đèo lúc này còn hẹp, đủ để
hai xe nhỏ tránh nhau, hơi ngoằn nghèo, xe vắng, chỉ thoáng nghe tiếng chim
kêu, suối chảy, nhưng phong cảnh hai bên đường tuyệt đẹp. Bên phải là các vách
thạch cao trắng toát đứng dựng. Bên trái thông xanh bạt ngàn chạy tuốt vô rừng
sâu. Vừa ra khỏi đèo, thành phố đã xuất hiện, sương mù bay lãng đãng, các ngôi
biệt thự xinh xắn nằm nép giữa đồi thông, đã cảm nhận được cái đẹp và cái lạnh
của Đà Lạt ngay từ ngỏ vào. Lần lên Đà Lạt này, đoàn thày trò của trường được
ngũ nghỉ tại khu nhà gỗ Bà Triệu của Khu Công Chánh. Riêng buổi tối đầu tiên,
được gia đình Ông Khôi, Trưởng Khu, cũng là đồng môn đồng nghiệp, mời chiêu đãi
tiệc rượu, khiêu vũ tại tư gia đường Hai Bà Trưng. Và cũng những ngày sau,
chính Ông Khôi hướng dẩn đi thăm các công trình kiến trúc xây dựng xưa nổi tiếng
tại Đà Lạt như nhà ga xe lửa, Nha Địa Dư, Lycée Yersin, nhà thờ Con Gà, đập Suối
Vàng, Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt, dinh Bảo Đại…Ngày cuối, tôi tách
đoàn, rảo khu chợ Hoà Bình, mua ít quà kỹ niệm cho người bạn sắp đi học xa, trà
atiso, thông khô, cù lần, áo len.
Lần thứ hai, khoảng những năm 80, tôi lại lên Đà Lạt hướng từ
Phan Rang đi Sông Pha, qua nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, men theo con đèo Ngoạn Mục,
đẹp y như cái tên của nó. Phía núi vách đá, rừng cổ thụ rêu phong; phía vực sâu,
rừng núi chập chùng, đôi lúc thấy được cả một phần đồng bằng Ninh Thuận. Ngoằn nghèo chui qua
chui lại đường ống kim loại trắng bạc to đùng neo bám theo núi đá dựng đứng dẩn nước từ Đơn Dương xuống nhà máy. Thấy
được cả những chiếc xe bé xíu chạy vòng phía bên kia rặng núi. Trên đèo, thỉnh
thoảng vài chiếc xe hơi bò lên chậm chạp, vài tốp người đi bàn trượt chở chuối
xổ dốc. Đến Đơn Dương, xe lại đi theo đường đèo Dran, về Cầu Đất Trại Mát. Lên
Đà Lạt thời bao cấp, sương mù vẫn lãng đãng, các ngôi biệt thự vẫn núp bóng các
đồi thông, nhưng có vẻ buồn hơn và chậm lại, phố sá vắng vẻ, giống phố cổ Hội
An và những căn phố người Hoa nhiều hơn, đất chỗ nào cũng trồng rau củ, biệt thự
chuyển sang làm nhà khách nhiều, mà bỏ không thì cũng dễ trở nên hoang phế, rêu
phong che kín, thét nghe toàn là chuyện ma. Lên Đà Lạt những năm này, chỉ ăn
cơm nhà khách, gia đình bà con, rồi thả bộ uống cà phê một mình, nhìn tranh,
nhìn hoa, nhìn cô chủ nhỏ con má trắng hồng chẳng biết nói gì. Đúng là thành phố
buồn như Lam Phương đã viết.
Những năm về sau này, khi về Sài Gòn đi dạy học, tôi lại có
dịp lên Đà Lạt nhiều hơn, nhưng lòng không còn háo hức như những chuyến đi ban
đầu, cuộc sống làm con người ta thực tế, bớt mơ mộng nhiều. Tôi thường đi xe
giường nằm chạy ban đêm, hết Phương Trang đến Thành Bưởi. Hiếm đi máy bay vì ít
chuyến trong tuần, khi nghỉ khi bay. Mà xe tốc hành cũng tiện, vé dễ đặt trước,
lên xe là ngủ khò, tới trạm dừng chân Madagui, tỉnh dậy, xuống xe vệ sinh, làm
tô hủ tiếu hay ly cà phê đá gì đó. Đến nơi, cũng chỉ tầm 5 giờ, bến xe vắng lạnh
tanh, theo xe đưa đón của nhà xe, hay xe
ôm, taxi về chỗ nghỉ. Những thời gian không đứng lớp, tôi thường thả bộ xem hoa
chụp ảnh. Đường nào, nhà nào, tường rào sân vườn cũng mọc/trồng đầy những loại hoa, dây leo đẹp.
Anh đào, phượng tím, mimosa, pensée, hồng, cúc, xác pháo lồng đèn…, mùa nào hoa
nấy. Nhìn hoa Đà Lạt, lại nhớ đồi núi hoa cỏ Lyon những năm đi học. Lyon cũng
có thông, anh đào, oải hương, nhiều hàng phong lá đỏ, huyền diệp, hoa hồng, có
cả tuyết rơi trên các khu phố cổ mà Đà Lạt không có.
Quay lại nói thêm
chuyện ăn uống. Ăn uống trong cái khí trời se lạnh ở Đà Lạt thì khỏi bàn, đi một
chút là phở, bánh căn, bánh ướt, bún bò, bánh mì xíu mại, mì quảng.. Nhiều lúc
còn được các nhóm học viên Bảo Lộc, Di Linh, Đức Trọng ở xa về học, rủ Thày đi
ăn cho biết món ngon Đà Lạt, nào bò nướng ngói, lẩu gà lá é, lẩu cá tầm, cơm
niêu, phở thố… Ngày về, lúc nào cũng có vài chậu lan Hài, các nhánh Long Tu chớm
nụ chơi Tết.
Đà Lạt không mộng mơ trầm tư giống Huế, chẳng giống Hà Nội
thanh lịch cổ kính, cũng không hẳn là những người Quảng tốt bụng mặn mà. Đà Lạt
chỉ là Đà Lạt.
Phạm Sanh 72PBC
